Ung thư dạ dày giai đoạn sớm: Dấu hiệu, chẩn đoán và điều trị

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm có thể không có triệu chứng. Tìm hiểu dấu hiệu, nội soi, sinh thiết, ESD, EMR, tiên lượng và theo dõi sau điều trị.

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm thường diễn ra âm thầm, hoặc chỉ gây đầy bụng, khó tiêu, tức nhẹ vùng thượng vị. Những dấu hiệu này rất dễ bị nhầm lẫn với các bệnh tiêu hóa lành tính. Chỉ khi nội soi đường tiêu hóa trên, quan sát trực tiếp niêm mạc dạ dày, bác sĩ mới phát hiện được vùng bất thường và chỉ định lấy mẫu sinh thiết để kết luận. Với những tổn thương đáp ứng tiêu chí chuyên môn, EMR hoặc ESD có thể thay cho phẫu thuật cắt dạ dày.

Ung thư dạ dày sớm không trùng khớp với “ung thư dạ dày giai đoạn I”. Cách gọi thứ nhất nói về độ sâu xâm lấn của khối u trong thành dạ dày. Cách gọi thứ hai dựa trên hệ phân giai đoạn TNM, có tính thêm hạch vùng và di căn xa. Bác sĩ chọn hướng điều trị sau khi xem cùng lúc độ sâu, kết quả mô bệnh học, kích thước tổn thương, tình trạng loét và nguy cơ di căn hạch.

Người bệnh cần đi khám ngay nếu có các biểu hiện: Khó nuốt tăng dần, nôn kéo dài, sụt cân không chủ ý, thiếu máu chưa rõ nguyên nhân, phân đen hoặc rối loạn tiêu hóa dai dẳng đều cần được khám. Nôn ra máu kèm choáng, ngất, chóng mặt, da lạnh tái hoặc mệt lả là tình huống cấp cứu, phải đến bệnh viện ngay.

Bài viêt được tham vấn y khoa bởi PGS.TS.BS Tạ Văn Tờ - Bác sĩ chuyên khoa Ung bướu Trung tâm Y khoa NeoMedic.

Tóm tắt nhanh:

  • Nhiều trường ung thư dạ dày giai đoạn sớm hợp không có triệu chứng, hoặc chỉ đầy bụng, khó tiêu, tức nhẹ thượng vị.
  • Nội soi giúp nhìn thấy tổn thương, sinh thiết cho kết luận mô bệnh học.
  • Các chất chỉ điểm ung thư trong máu không thay thế được nội soi.
  • Không phải ai cũng phải cắt dạ dày; một số tổn thương cắt được qua nội soi.
  • Sau khi cắt qua nội soi, kết quả giải phẫu bệnh mới cho biết đã điều trị triệt căn hay chưa.
  • Bệnh còn khu trú có tiên lượng thuận lợi hơn, nhưng tỷ lệ sống của từng người phụ thuộc nhiều yếu tố.
  • Người còn dạ dày cần nội soi theo dõi lâu dài, vì tổn thương mới vẫn có thể xuất hiện.

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm là gì?

Phần lớn ung thư dạ dày là ung thư biểu mô tuyến, khởi phát từ tế bào tuyến của lớp niêm mạc. Thành dạ dày có nhiều lớp, tính từ trong ra gồm niêm mạc, dưới niêm mạc, lớp cơ và lớp ngoài cùng. Tế bào ung thư đã xâm lấn tới lớp nào là căn cứ quan trọng để xác định mức độ bệnh và chọn cách điều trị.

Giai đoạn sớm dễ khiến người bệnh hình dung một khối u mới hình thành, rất nhỏ và chắc chắn chưa lan tới hạch. Thực tế không hẳn vậy. Trong chuyên môn, ung thư dạ dày giai đoạn sớm (early gastric cancer, viết tắt EGC) là cách gọi dựa trên độ sâu xâm lấn.

ung-thu-da-day-giai-doan-som

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm không đồng nghĩa với ung thư dạ dày giai đoạn I

Ung thư giai đoạn sớm không đồng nghĩa với ung thư giai đoạn I. Ung thư dạ dày giai đoạn sớm là ung thư chưa xâm lấn sâu hơn lớp dưới niêm mạc, tức nhóm T1, bất kể hạch có bị di căn hay không.

Hệ TNM ghép ba yếu tố: T là độ xâm lấn của khối u, N là tình trạng hạch vùng, M là di căn xa. Giai đoạn I được xác định từ tổ hợp cả ba, nên hai cách gọi này không thay thế nhau.

T1 được chia thành:

  • T1a: ung thư giới hạn ở lớp niêm mạc.
  • T1b: ung thư đã xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc.

Khi tổn thương đã được cắt ra, bác sĩ giải phẫu bệnh đo được nó lan xuống dưới niêm mạc sâu bao nhiêu. Theo Hướng dẫn điều trị ung thư dạ dày năm 2025 của Hội Ung thư Dạ dày Nhật Bản (JGCA), mức xâm lấn nông dưới 500 µm tính từ lớp cơ niêm được gọi là SM1. [1]

Khái niệmCách hiểuÝ nghĩa trong điều trị
EGCUng thư xâm lấn tới niêm mạc hoặc dưới niêm mạcChưa đủ để kết luận có thể ESD hay phải phẫu thuật
T1aKhối u giới hạn ở niêm mạcNhiều tổn thương phù hợp có thể được cân nhắc cắt nội soi
T1bKhối u đã xuống dưới niêm mạcNguy cơ di căn hạch cần được đánh giá kỹ hơn
SM1Xâm lấn dưới niêm mạc nông dưới 500 µm theo tiêu chí JGCACó ý nghĩa khi đánh giá eCura trên bệnh phẩm sau cắt
Giai đoạn INhóm giai đoạn theo TNMKhông đồng nhất hoàn toàn với EGC

Mốc SM1 chỉ dùng khi đã có bệnh phẩm và kết quả mô học đầy đủ. Trước thủ thuật, một tổn thương được ước lượng là T1b không tự động trở thành chỉ định cắt qua nội soi dạ dày. Cùng chẩn đoán ung thư dạ dày sớm, hai người bệnh vẫn có thể đi hai hướng điều trị khác nhau, tùy độ sâu, mô học, kích thước và nguy cơ hạch.

Triệu chứng của ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Ung thư dạ dày sớm có thể hoàn toàn không gây triệu chứng. Khi đã có biểu hiện, chúng thường mờ nhạt và giống nhiều bệnh tiêu hóa lành tính.

Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (NCI) ghi nhận những biểu hiện có thể gặp ở giai đoạn sớm gồm khó tiêu, khó chịu vùng dạ dày, nhanh đầy sau ăn, buồn nôn nhẹ, giảm cảm giác ngon miệng và ợ nóng. Nôn, sụt cân không chủ ý, chảy máu tiêu hóa hay khó nuốt thường xuất hiện khi bệnh đã tiến triển hơn. [3]

PGS.TS.BS Tạ Văn Tờ chia sẻ: “ Trong quá trình thăm khám, rất nhiều người bệnh ung thư dạ dày giai đoạn sớm cho biết, có cảm giác no hoặc đầy bụng ngay cả khi chỉ ăn 1 chút, có thể kèm theo cảm giác khó tiêu kéo dài hơn bình thường. Cũng có những người bị đau, tức vùng thượng vị hay chỉ giảm dần cảm giác ngon miệng khi ăn. Vì thế, rất ít người chú ý đến những triệu chứng của bệnh ngay từ sớm”

Để chỉ định làm nội soi và sinh thiết, bác sĩ còn cần căn cứ vào tuổi tác, thời gian các triệu chứng tiêu hóa kéo dài, tình trạng nhiễm vi khuẩn H. pylori, tiền sử gia đình, thiếu máu, sụt cân và dấu hiệu xuất huyết trước khi quyết định.

Lưu ý: Không đau không có nghĩa là không có bệnh. Ngược lại, đau thượng vị hay đầy bụng cũng chưa đủ để kết luận ung thư. Chỉ đánh giá lâm sàng đi cùng nội soi và mô bệnh học mới cho câu trả lời.

Các phương pháp phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Không có một xét nghiệm đơn lẻ nào đủ để xác định người bệnh có mắc ung thư dạ dày giai đoạn sớm hay không. Bác sĩ thường bắt đầu từ triệu chứng, yếu tố nguy cơ và tiền sử cá nhân, sau đó mới quyết định nội soi, sinh thiết hoặc các bước đánh giá tiếp theo.

Bản cập nhật thực hành lâm sàng năm 2025 của Hội Tiêu hóa Hoa Kỳ (AGA) xem nội soi là phương pháp tốt nhất để tầm soát và theo dõi ở những người có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn bình thường. Nội soi giúp quan sát trực tiếp niêm mạc và lấy mẫu mô ngay tại vùng nghi ngờ. [2]

Nhóm nguy cơ cao và chỉ định theo dõi

Helicobacter pylori là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày. Tuy nhiên, kết quả H. pylori dương tính không phải là chẩn đoán ung thư và cũng không có nghĩa người nhiễm chắc chắn sẽ mắc bệnh.

Nguy cơ có thể tăng thêm ở những người có:

  • Viêm teo niêm mạc dạ dày.
  • Dị sản ruột.
  • Tiền sử ung thư dạ dày ở người thân bậc một.
  • Một số hội chứng ung thư di truyền.
  • Triệu chứng tiêu hóa kéo dài hoặc kết quả nội soi trước đó cần theo dõi.

Bác sĩ sẽ kết hợp các yếu tố này với tuổi, triệu chứng, tiền sử cá nhân và kết quả nội soi trước đó để xác định nhu cầu cũng như khoảng cách theo dõi.

IARC/WHO đã xây dựng chiến lược xét nghiệm và điều trị H. pylori nhằm dự phòng ung thư dạ dày ở cấp dân số. [4] Với từng người, lịch nội soi vẫn cần cá thể hóa theo nguy cơ.

Người từng nhiễm H. pylori, có viêm teo niêm mạc, dị sản ruột hoặc tiền sử gia đình ung thư dạ dày nên trao đổi với bác sĩ Tiêu hóa về kế hoạch nội soi, thay vì chỉ chờ đến khi xuất hiện triệu chứng.

ung-thu-da-day-giai-doan-som-nhom-nguy-co-cao

Viêm teo niêm mạc dạ dày làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Nội soi và sinh thiết trong chẩn đoán sớm

Một trường hợp nghi ngờ ung thư dạ dày thường được đánh giá theo trình tự từ nguy cơ đến mô bệnh học. Quy trình có thể gồm:

  • Đánh giá triệu chứng, tiền sử và yếu tố nguy cơ.
  • Nội soi đường tiêu hóa trên.
  • Nhận diện vùng niêm mạc bất thường.
  • Lấy sinh thiết tại vùng nghi ngờ.
  • Đọc mô bệnh học.
  • Đánh giá độ sâu xâm lấn và nguy cơ di căn hạch.
  • Lựa chọn phương pháp điều trị nếu xác định ung thư.

Không phải người bệnh nào cũng cần thực hiện đầy đủ tất cả các bước. Một số kỹ thuật chỉ được bổ sung khi kết quả có thể ảnh hưởng đến đánh giá hoặc hướng xử trí.

Nội soi cho phép quan sát trực tiếp niêm mạc dạ dày. Ung thư rất sớm đôi khi chỉ là vùng đổi màu, lõm nhẹ, gồ nhẹ hoặc thay đổi cấu trúc bề mặt nên chất lượng khảo sát rất quan trọng.

NBI là kỹ thuật nội soi tăng cường hình ảnh bằng dải ánh sáng hẹp, giúp làm rõ cấu trúc bề mặt và mạng mạch niêm mạc. Kỹ thuật này có thể hỗ trợ nhận diện tổn thương và xác định ranh giới trong những trường hợp phù hợp.

Khi phát hiện vùng nghi ngờ, bác sĩ sẽ lấy mẫu sinh thiết để bác sĩ giải phẫu bệnh xác định có tế bào ung thư hay không và mô tả đặc điểm mô học.

Trước nội soi, người bệnh cần nhịn ăn theo hướng dẫn và thông báo các thuốc đang dùng, đặc biệt là thuốc chống đông, chống kết tập tiểu cầu và thuốc điều trị đái tháo đường.

ung-thu-da-day-giai-doan-som-noi-soi

Nội soi và sinh thiết dạ dày theo chỉ định của bác sĩ

Giá trị của mô bệnh học sau sinh thiết và ESD

Mẫu sinh thiết nhỏ thường giúp xác định tính chất của vùng tổn thương nghi ngờ. Tuy nhiên, mẫu này không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ toàn bộ đặc điểm của khối u.

Nếu tổn thương được cắt qua nội soi bằng ESD hoặc phương pháp phù hợp khác, toàn bộ bệnh phẩm cho phép đánh giá chi tiết hơn:

  • Độ sâu xâm lấn.
  • Kích thước tổn thương.
  • Loại mô học và mức độ biệt hóa.
  • Bờ cắt còn hay không còn tế bào ung thư.
  • Có xâm nhập mạch máu hoặc mạch bạch huyết hay không.

Những thông tin này có ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá mức độ triệt căn sau cắt và quyết định người bệnh chỉ cần theo dõi hay phải điều trị bổ sung. [1]

ung-thu-da-day-giai-doan-som-sinh-thiet

Mẫu sinh thiết giúp đánh giá tính chất của vùng tổn thương nghi ngờ

Vai trò và giới hạn của xét nghiệm máu

Xét nghiệm máu không thay thế nội soi trong phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Chưa có marker khối u thường quy nào đủ độ chính xác để dùng riêng lẻ nhằm tầm soát hoặc loại trừ bệnh ở giai đoạn này.

CEA, CA 19-9 và CA 72-4 có thể tăng ở một số người mắc ung thư dạ dày. Tuy nhiên:

  • Marker bình thường không loại trừ ung thư.
  • Marker tăng không đồng nghĩa chắc chắn có ung thư dạ dày.
  • Các xét nghiệm này không cho biết vị trí hoặc hình dạng tổn thương trên niêm mạc.
  • Không nên dùng kết quả marker để trì hoãn nội soi khi bác sĩ đã xác định có chỉ định.

Có thể hiểu đơn giản rằng xét nghiệm máu và nội soi cung cấp hai nhóm thông tin khác nhau. Marker huyết thanh chỉ mang tính bổ sung trong một số bối cảnh, còn nội soi giúp bác sĩ nhìn trực tiếp niêm mạc và lấy mô để xác định tổn thương.

ung-thu-da-day-giai-doan-som-xet-nghiem-mau

Xét nghiệm máu không thay thế được nội soi để phát hiện ung thư dạ dày

CT và siêu âm nội soi trong đánh giá bổ sung

CT, siêu âm nội soi hoặc các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác có thể được sử dụng khi bác sĩ cần đánh giá thêm độ sâu xâm lấn, tình trạng hạch hoặc mức độ lan rộng của bệnh. Không phải mọi trường hợp ung thư dạ dày rất sớm đều cần thực hiện toàn bộ các kỹ thuật này.

CT có thế mạnh trong đánh giá hạch và tổn thương ngoài dạ dày ở những tình huống phù hợp. Siêu âm nội soi có thể hỗ trợ đánh giá độ sâu xâm lấn ở một số trường hợp, đặc biệt khi kết quả có khả năng thay đổi lựa chọn điều trị.

Điều trị ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm không đồng nghĩa người bệnh chắc chắn phải cắt dạ dày. Nếu nguy cơ di căn hạch rất thấp và tổn thương đáp ứng tiêu chí chuyên môn, bác sĩ có thể lựa chọn cắt qua nội soi bằng EMR hoặc ESD.

Mục tiêu điều trị là loại bỏ đầy đủ ung thư nhưng hạn chế can thiệp rộng hơn mức cần thiết. Quyết định phụ thuộc độ sâu xâm lấn, mô học, kích thước, tình trạng loét, nguy cơ di căn hạch và sức khỏe tổng thể của người bệnh.

Điều trị qua nội soi bằng EMR và ESD

  • EMR là kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi. Tổn thương thường được nâng khỏi lớp sâu hơn bằng tiêm dịch dưới niêm mạc, sau đó cắt bằng thòng lọng cao tần. [1]
  • ESD là cắt tách dưới niêm mạc. Bác sĩ rạch quanh và bóc tách tổn thương tại lớp dưới niêm mạc, nhờ đó có thể lấy nguyên khối những tổn thương phù hợp và thuận lợi hơn cho đánh giá giải phẫu bệnh.

Theo JGCA 2025, cắt nội soi được lựa chọn khi nguy cơ di căn hạch rất thấp và tổn thương có khả năng được lấy trọn một khối. Một chỉ định tuyệt đối cho EMR hoặc ESD là ung thư biểu mô tuyến thuộc nhóm mô học biệt hóa, cT1a, không có dấu loét và đường kính không quá 2 cm. Một số tổn thương cT1a khác vẫn có thể thuộc chỉ định ESD nếu đáp ứng tiêu chí riêng về mô học, kích thước và tình trạng loét. [1]

Trước khi quyết định, bác sĩ cần xem đồng thời:

  • Độ sâu xâm lấn T1a/T1b.
  • Loại mô học và mức độ biệt hóa.
  • Kích thước tổn thương.
  • Có hay không có dấu loét.
  • Khả năng cắt en bloc, tức lấy nguyên khối.
  • Nguy cơ di căn hạch.

Các ngưỡng kích thước trong guideline phục vụ quyết định chuyên môn. Người bệnh không nên chỉ dựa vào con số trên phiếu nội soi để tự kết luận mình có phù hợp ESD hay không.

Cắt qua nội soi giúp bảo tồn dạ dày ở nhiều trường hợp phù hợp nhưng vẫn là thủ thuật xâm lấn. Chảy máu và thủng là hai biến chứng có thể xảy ra, nên người bệnh cần được giải thích trước khi can thiệp.

ung-thu-da-day-giai-doan-som-esd

Kỹ thuật ESD trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Kết quả giải phẫu bệnh sau cắt nội soi

Hướng điều trị chưa kết thúc ngay khi tổn thương đã được lấy ra. Toàn bộ bệnh phẩm cần được bác sĩ giải phẫu bệnh đánh giá để xác định mức độ cắt triệt căn và nguy cơ còn bệnh tại hạch.

Các thông tin quan trọng gồm:

  • T1a/T1b: độ sâu xâm lấn.
  • Mô học/độ biệt hóa: đặc điểm tế bào ung thư.
  • Kích thước: được đánh giá cùng độ sâu và tình trạng loét.
  • UL0/UL1: không có hoặc có dấu loét theo tiêu chí chuyên môn.
  • En bloc/R0: tổn thương được lấy nguyên khối và không còn ung thư tại bờ cắt.
  • HM0/VM0: bờ ngang và bờ dọc âm tính với tế bào ung thư.
  • Ly0/V0: không ghi nhận xâm nhập mạch bạch huyết hoặc mạch máu.

Một tổn thương trước ESD được đánh giá chỉ nằm ở niêm mạc đôi khi lại được phát hiện đã xâm lấn xuống dưới niêm mạc khi toàn bộ bệnh phẩm được đọc. Khi đó, bác sĩ phải đánh giá lại nguy cơ và hướng điều trị tiếp theo.

Phân loại eCura sau ESD

JGCA sử dụng hệ thống eCura để đánh giá mức độ curative sau cắt nội soi. Phân loại này xem đồng thời khả năng đã loại bỏ hoàn toàn tổn thương tại chỗ và nguy cơ còn di căn hạch. [1]

Các nhóm chính gồm:

  • eCuraA: đáp ứng các tiêu chí điều trị triệt căn theo guideline.
  • eCuraB: áp dụng cho một nhóm hẹp có các tiêu chí mô bệnh học cụ thể.
  • eCuraC: không đáp ứng tiêu chí eCuraA hoặc eCuraB, gồm eCuraC-1 và eCuraC-2.

Một điểm đáng chú ý trong JGCA 2025 là một số tổn thương pT1b-SM1 xâm lấn dưới niêm mạc dưới 500 µm vẫn có thể được xếp eCuraA nếu đồng thời đáp ứng các tiêu chí như kích thước không quá 3 cm, chủ yếu thuộc nhóm mô học biệt hóa, bờ cắt âm tính và không xâm nhập mạch. [1]

Đây là nhóm được lựa chọn rất kỹ. Không phải mọi trường hợp T1b đều có thể kết thúc điều trị sau ESD.

ung-thu-da-day-giai-doan-som-ecura

Phân loại eCura sau ESD

Chỉ định phẫu thuật bổ sung sau ESD

  • Với eCuraC-1, vấn đề chủ yếu nằm ở cắt không en bloc hoặc bờ ngang còn tế bào ung thư trong khi các yếu tố khác vẫn thuận lợi. Tùy tình huống, bác sĩ có thể cân nhắc ESD lại, phẫu thuật hoặc phương án khác. [1]
  • Với eCuraC-2, JGCA xem cắt dạ dày kèm nạo hạch là điều trị tiêu chuẩn nếu người bệnh đủ điều kiện phẫu thuật. [1] Ở người cao tuổi hoặc có bệnh nền làm tăng nguy cơ mổ, lựa chọn cần được cá thể hóa sau khi cân nhắc lợi ích và rủi ro.

Có thể hiểu ngắn gọn quy trình sau ESD như sau:

  • Cắt tổn thương qua nội soi.
  • Đọc toàn bộ bệnh phẩm.
  • Đánh giá độ sâu, mô học, kích thước, bờ cắt và xâm nhập mạch.
  • Xếp loại eCura.
  • Theo dõi hoặc điều trị bổ sung nếu cần.

Phẫu thuật bổ sung sau ESD không có nghĩa ung thư đã chuyển sang giai đoạn muộn. Với nhiều tổn thương T1, mục tiêu của ca mổ là xử lý nguy cơ tại hạch vùng mà cắt nội soi không thể giải quyết.

Tiên lượng và theo dõi sau điều trị ung thư dạ dày sớm

Ung thư dạ dày được phát hiện khi bệnh còn khu trú thường có tiên lượng thuận lợi hơn so với khi đã lan xa. Tuy nhiên, “ung thư dạ dày sớm”, “giai đoạn I” và nhóm “localized” trong các cơ sở dữ liệu ung thư không hoàn toàn giống nhau, nên tỷ lệ sống cần được đọc cùng hệ phân giai đoạn và quần thể nghiên cứu.

Khả năng điều trị triệt căn và tỷ lệ sống 5 năm

Nhiều người bệnh được phát hiện sớm có thể điều trị với mục tiêu triệt căn. Kết quả còn phụ thuộc độ sâu xâm lấn, tình trạng hạch, mô học, khả năng loại bỏ hoàn toàn tổn thương và sức khỏe tổng thể.

Theo dữ liệu SEER 21 của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ giai đoạn 2016–2022, tỷ lệ sống tương đối 5 năm của ung thư dạ dày còn khu trú tại chỗ là 78,1%. [5] Con số này không phải tỷ lệ riêng của early gastric cancer và cũng không tương đương trực tiếp với giai đoạn IA hoặc IB theo TNM.

Tỷ lệ sống 5 năm không có nghĩa người bệnh chỉ sống được 5 năm. Đây là chỉ số thống kê dùng để so sánh khả năng sống của một nhóm người mắc ung thư với dân số tương đồng không mắc bệnh trong khoảng 5 năm sau chẩn đoán.

Khi trao đổi về tiên lượng, người bệnh nên quan tâm các thông tin chính:

  • Giai đoạn TNM.
  • Tình trạng hạch.
  • Kết quả mô bệnh học sau điều trị.
  • Bờ cắt và phân loại eCura nếu đã cắt nội soi.

Những dữ liệu này có giá trị hơn một tỷ lệ sống trung bình lấy từ internet, bởi tiên lượng của mỗi người không hoàn toàn giống nhau.

Theo dõi sau ESD hoặc phẫu thuật

Theo dõi sau điều trị không chỉ nhằm phát hiện tái phát tại vị trí cũ. Ở người còn dạ dày, một ung thư mới vẫn có thể xuất hiện ở vùng niêm mạc khác; tình trạng này được gọi là ung thư dạ dày metachronous.

Theo JGCA 2025:

  • eCuraA: nội soi định kỳ mỗi năm.
  • eCuraB: nội soi một đến hai lần mỗi năm, kết hợp phương tiện hình ảnh phù hợp để theo dõi nguy cơ di căn.
  • eCuraA và eCuraB: kiểm tra H. pylori và điều trị tiệt trừ nếu dương tính. [1]

Ngay cả khi ESD đạt eCuraA và bờ cắt sạch, người bệnh vẫn cần nội soi lâu dài vì nguy cơ xuất hiện tổn thương mới có thể kéo dài nhiều năm.

Sau phẫu thuật cắt dạ dày, kế hoạch theo dõi tùy giai đoạn bệnh, loại phẫu thuật và tình trạng dinh dưỡng. Bác sĩ có thể theo dõi:

  • Cân nặng và khả năng ăn uống.
  • Thiếu máu.
  • Vitamin và vi chất.
  • Các rối loạn hấp thu sau phẫu thuật.

JGCA 2025 khuyến nghị bổ sung vitamin B12 sau cắt toàn bộ dạ dày. [1] Liều dùng và cách theo dõi cần được bác sĩ điều chỉnh theo từng người.

Lịch tái khám sau phẫu thuật không giống nhau ở mọi bệnh nhân. Khoảng cách theo dõi nên được cá thể hóa dựa trên giai đoạn, phương pháp điều trị và nguy cơ của từng trường hợp.

Câu hỏi thường gặp về ung thư dạ dày giai đoạn sớm

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm có phải giai đoạn 1 không?

Không trùng khớp hoàn toàn. Giai đoạn sớm (early gastric cancer – EGC) nói về độ sâu xâm lấn của khối u chỉ đến lớp niêm mạc hoặc dưới niêm mạc – T1, bất kể hạch có di căn hay không. Giai đoạn I theo hệ TNM tính thêm cả tình trạng hạch vùng và di căn xa. Hai cách gọi này không thay thế nhau.

Ung thư dạ dày sớm có thể không có triệu chứng không?

Có, và tình huống này khá thường gặp. Nhiều người chỉ thấy khó tiêu, nhanh đầy sau ăn, tức nhẹ vùng thượng vị hoặc giảm cảm giác ngon miệng. Những biểu hiện này rất dễ bị nhầm với bệnh tiêu hóa lành tính.

Xét nghiệm máu có phát hiện ung thư dạ dày sớm không?

Không. Kết quả CEA, CA 19-9 hay CA 72-4 bình thường vẫn có thể bỏ sót tổn thương. Ngược lại, marker tăng cũng không khẳng định chắc chắn có ung thư dạ dày. Muốn xác định chắc chắn phải nội soi và sinh thiết.

Nội soi có phát hiện được ung thư dạ dày rất sớm không?

Được, nếu tổn thương nằm trong tầm quan sát và cuộc soi được thực hiện kỹ lưỡng, có thể hỗ trợ bằng NBI. Tổn thương quá nhỏ hoặc quá mờ nhạt vẫn có khả năng bị bỏ sót nếu chất lượng nội soi chưa đạt.

Ung thư dạ dày sớm có bắt buộc phải mổ không?

Không bắt buộc. Nhiều tổn thương đáp ứng tiêu chí chuyên môn, thường là T1a, mô học biệt hóa, không loét, kích thước phù hợp, có thể cắt qua nội soi bằng EMR hoặc ESD, bảo tồn dạ dày. Chỉ khi kết quả giải phẫu bệnh sau cắt thuộc nhóm eCuraC-2 hoặc nguy cơ di căn hạch cao thì bác sĩ mới cân nhắc phẫu thuật bổ sung.

Sau khi cắt qua nội soi (ESD), bao lâu thì biết đã triệt căn hay phải mổ thêm?

Thường trong vòng 1–2 tuần sau thủ thuật, khi có kết quả giải phẫu bệnh toàn bộ bệnh phẩm. Bác sĩ sẽ đánh giá độ sâu xâm lấn, bờ cắt, xâm nhập mạch và xếp loại eCura. Kết quả này quyết định chỉ cần theo dõi hay phải điều trị bổ sung.

ung-thu-da-day-giai-doan-som-di-can

Sau thủ thuật ESD 1 - 2 tuần, bác sĩ có thể đánh giá khả năng triệt căn hoặc mổ thêm

Sau ESD đạt eCuraA thì còn phải nội soi bao lâu một lần?

Theo hướng dẫn JGCA 2025, người thuộc nhóm eCuraA nên nội soi định kỳ mỗi năm. Ngay cả khi bờ cắt sạch, nguy cơ xuất hiện ung thư dạ dày mới (metachronous) vẫn tồn tại nhiều năm sau, nên cần theo dõi lâu dài.

Sau khi cắt qua nội soi, ăn uống và sinh hoạt thế nào trong thời gian đầu?

Thường được hướng dẫn ăn mềm, dễ tiêu trong vài ngày đến 1–2 tuần đầu, tránh đồ cứng, cay nóng, rượu bia. Hầu hết người bệnh có thể trở lại sinh hoạt bình thường khá sớm, nhưng cần tuân thủ lịch tái khám và báo ngay nếu có đau bụng tăng, nôn ra máu hoặc phân đen.

Tỷ lệ sống 5 năm của ung thư dạ dày giai đoạn sớm khoảng bao nhiêu?

Khi bệnh còn khu trú tại chỗ, dữ liệu SEER ghi nhận tỷ lệ sống tương đối 5 năm khoảng 78%. Tuy nhiên, con số này là thống kê nhóm, không phải tiên lượng cá nhân. Tiên lượng thực tế phụ thuộc độ sâu xâm lấn, tình trạng hạch, kết quả mô bệnh học và khả năng điều trị triệt căn của từng người.

Nếu bạn đang có triệu chứng tiêu hóa kéo dài, đã phát hiện tổn thương nghi ngờ qua nội soi hoặc đã có kết quả sinh thiết cần được giải thích thêm, có thể liên hệ Trung tâm Y khoa NeoMedic để được hướng dẫn đặt lịch thăm khám với chuyên khoa phù hợp.

Khi đến khám, nên mang theo hình ảnh nội soi, phiếu giải phẫu bệnh, kết quả CT hoặc các xét nghiệm đã thực hiện. Hồ sơ càng đầy đủ, bác sĩ càng có thêm cơ sở để đánh giá tình trạng bệnh và tư vấn hướng kiểm tra hoặc xử trí tiếp theo.

Ung thư dạ dày giai đoạn sớm thường không có triệu chứng rõ ràng, vì thế, tầm soát ung thư định kỳ là biện pháp hiệu quả giúp phát hiện và điều trị sớm, tránh để bệnh tiến triển nặng. Liên hệ HOTLINE 0968.636.630 để được hỗ trợ đặt lịch khám sớm nhất tại Trung tâm Y khoa NeoMedic với chuyên gia ung bướu uy tín.

Nội dung bài viết nhằm cung cấp kiến thức sức khỏe, không thay thế chẩn đoán, chỉ định điều trị hoặc kế hoạch theo dõi trực tiếp từ bác sĩ chuyên khoa.

Nguồn tham khảo y khoa chính

  1. Japanese Gastric Cancer Association. Japanese Gastric Cancer Treatment Guidelines 2025, 7th edition. Gastric Cancer.
  2. American Gastroenterological Association. AGA Clinical Practice Update on Screening and Surveillance in Individuals at Increased Risk for Gastric Cancer. 2025.
  3. National Cancer Institute. Symptoms of Stomach Cancer.
  4. International Agency for Research on Cancer/WHO. Population-Based Helicobacter pylori Screen-and-Treat Strategies for Gastric Cancer Prevention và Working Group Report cập nhật năm 2026.
  5. National Cancer Institute – SEER. Cancer Stat Facts: Stomach Cancer. Dữ liệu SEER 21, giai đoạn 2016–2022.
  6. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh – Bộ Y tế. Quyết định 3127/QĐ-BYT ngày 17/07/2020, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày.